Sạp là chỗ bán mở, thường là một bệ hoặc kệ trong dãy chợ, khách đứng ngoài nhìn thấy toàn bộ hàng. Ki-ốt là một ô có vách và cửa khoá được, hay nằm ở vòng ngoài chợ. Quầy là mặt bàn hoặc tủ kính bán hàng, còn lô là cách gọi một ô trên sơ đồ chợ, đánh số để quản lý. Văn bản về chợ gọi chung tất cả là điểm kinh doanh, nhưng ngoài đời mỗi kiểu chỗ bán hợp với một kiểu hàng và một cách bán khác nhau.
Sạp: đơn vị cơ bản của chợ Việt
Hình ảnh quen thuộc nhất của chợ là những dãy sạp nối nhau, người bán ngồi giữa đống hàng, khách đi dọc lối. Sạp có nhiều dạng tuỳ khu:
- Sạp bệ xây ở khu tươi sống: bệ xi măng ốp gạch men hoặc mặt đá, cao vừa tầm tay, dễ dội nước. Người bán cá, bán thịt đứng hoặc ngồi phía sau bệ.
- Sạp kệ ở khu hàng khô: khung sắt hoặc gỗ nhiều tầng, hàng xếp từ thấp lên cao, có khi cao quá đầu người. Cuối ngày người bán phủ bạt, buộc dây, để hàng lại qua đêm.
- Sạp bục ở khu vải: một bục gỗ cao chừng đầu gối, người bán ngồi trên bục giữa những cây vải, khách đứng dưới chọn.
Điểm chung của sạp là không có vách riêng. Ranh giới giữa hai sạp có khi chỉ là một đường kẻ trên nền, một thanh sắt, hay ước lệ giữa hai người bán lâu năm. Chính vì vậy chuyện lấn ranh, che bạt sang nhau là một trong những việc ban quản lý phải xử lý nhiều nhất.
Sạp mở cũng có cái lợi lớn: khách nhìn thấy hàng ngay, hỏi chuyện dễ, người bán bao quát được cả dãy. Không khí “nhộn nhịp” của chợ phần lớn sinh ra từ những dãy sạp mở như thế.
Ki-ốt: ô hàng có cửa khoá
Chữ ki-ốt mượn từ tiếng Pháp kiosque. Ở chợ Việt, ki-ốt là một ô nhỏ có vách ngăn, có cửa cuốn hoặc cửa xếp, khoá lại được khi hết giờ. Ki-ốt thường có mấy đặc điểm:
- Nằm ở vòng ngoài của toà chợ, quay mặt ra phố hoặc ra lối chính, có khi mở cửa sớm hơn và đóng muộn hơn phần trong chợ.
- Có điện riêng, nhiều nơi có công tơ riêng, dùng được tủ lạnh, tủ kính có đèn.
- Hợp với hàng giá trị cao hoặc cần bảo quản: vàng bạc, đồng hồ, điện thoại, mỹ phẩm, đồ khô cao cấp, hàng may mặc treo.
Vì có cửa khoá và mặt tiền, ki-ốt thường được tính khác sạp trong lõi chợ. Người định thuê nên hỏi rõ cách tính của từng vị trí thay vì so sánh theo diện tích đơn thuần.
Về phòng cháy, ki-ốt có cái khó riêng: khi cửa cuốn đóng, đám cháy bên trong khó phát hiện sớm và khó tiếp cận. Đây là lý do nội quy chợ thường yêu cầu ngắt điện ki-ốt khi đóng cửa, không để thiết bị sạc hay bếp điện cắm qua đêm.
Quầy: mặt bàn để giao dịch
Quầy nghiêng về đồ dùng để bán hơn là chỗ đứng. Một quầy thịt là bàn inox hoặc mặt đá có móc treo phía trên. Một quầy vàng là tủ kính có đèn. Một quầy thuốc là tủ kính và kệ phía sau. Quầy hàng ăn là bàn bếp có chỗ đặt nồi.
Trong cách nói thường ngày, “quầy” và “sạp” hay dùng lẫn. Nhưng khi nghe người trong chợ nói “quầy thịt”, “quầy vàng”, họ thường muốn nhấn vào mặt bàn bày bán, còn “sạp vải”, “sạp rau” thì nhấn vào cả khoảng chỗ ngồi bán.
Ở khu tươi sống, mặt quầy là chỗ quyết định vệ sinh. Mặt inox hoặc đá trơn, không nứt, dễ cọ rửa giữ sạch hơn nhiều so với mặt gỗ thấm nước. Quầy có mái che hoặc tấm chắn phía trên giúp bụi và nước từ trần không rơi xuống hàng.
Lô và số sạp: cách chợ đánh địa chỉ
Trên sơ đồ của ban quản lý, mọi chỗ bán đều có một địa chỉ. Cách đánh số mỗi chợ một kiểu, nhưng thường gồm:
- Khu hoặc tầng: khu A, khu B; tầng trệt, tầng một.
- Dãy: dãy 1, dãy 2, hoặc theo chữ cái.
- Số lô: số thứ tự của ô trong dãy.
Chữ “lô” vì thế gắn với sơ đồ và hợp đồng nhiều hơn là gắn với hình dạng chỗ bán. Một lô có thể là một sạp, một ki-ốt hay một quầy. Khi người bán nói “em ở lô 25 dãy C”, khách quen có thể tìm lại đúng chỗ mà không cần nhớ đường.
Số sạp cũng là thứ quan trọng khi có việc: báo mất điện, báo dột mái, giao hàng, nhận thư từ. Nhiều người bán in số sạp lên túi đựng hàng hoặc ghi vào danh thiếp để khách quen quay lại.
So sánh nhanh bốn kiểu chỗ bán
| Kiểu | Hình dạng | Vị trí hay gặp | Hợp với hàng gì |
|---|---|---|---|
| Sạp | Mở, không vách, bệ hoặc kệ | Trong lõi chợ, theo dãy | Rau, thịt cá, vải, đồ khô, đồ gia dụng |
| Ki-ốt | Có vách, cửa cuốn khoá được | Vòng ngoài, mặt phố, lối chính | Vàng bạc, điện thoại, mỹ phẩm, may mặc treo |
| Quầy | Mặt bàn hoặc tủ kính bán hàng | Khu tươi sống, khu ăn uống, khu hàng giá trị | Thịt, đồ ăn, trang sức, hàng cần trưng bày |
| Lô | Ô đánh số trên sơ đồ | Khắp chợ | Không phải loại hàng, mà là đơn vị quản lý |
Người bán không có chỗ cố định
Không phải ai bán ở chợ cũng có sạp. Quanh nhiều khu chợ còn có những người bán theo buổi: người mang rau nhà trồng lên bán một buổi sáng, người bán theo mùa vụ, người ngồi tạm ở rìa chợ. Họ không có điểm kinh doanh cố định và không nằm trên sơ đồ theo nghĩa hợp đồng.
Mỗi chợ xử lý chuyện này một kiểu. Có chợ dành một khoảng sân hoặc một dãy riêng cho người bán theo buổi, thu phí dịch vụ theo ngày. Có chợ yêu cầu người bán tạm không ngồi ở lối đi hay cổng để giữ lối thoát nạn. Đây là chỗ cần cân bằng giữa sinh kế của người bán nhỏ, sự tiện lợi của khách và an toàn chung của cả khu chợ. Quy định cụ thể nên hỏi ban quản lý chợ hoặc chính quyền xã, phường.
Góc nhìn hôm nay: nhìn chỗ bán để hiểu chợ
Tỷ lệ giữa sạp, ki-ốt và quầy nói lên khá nhiều về một khu chợ. Chợ dân sinh thiên về sạp mở và quầy tươi sống. Chợ trung tâm lâu đời thường có vòng ki-ốt bao ngoài, lõi là sạp. Chợ mới xây lại hay chuyển dần sang ki-ốt có vách, gọn và dễ quản lý hơn, nhưng cũng dễ mất cái không khí mở vốn là sức hút của chợ.
Với người đi chợ, có hai mẹo nhỏ:
- Muốn quay lại đúng chỗ đã mua, hãy ghi số sạp hoặc số lô thay vì nhớ “sạp gần cột thứ ba”.
- Muốn tìm hàng giá trị cao, đồ cần bảo hành, hãy nhìn vòng ki-ốt bên ngoài trước; muốn tìm đồ tươi, đi thẳng vào khu sạp bệ phía trong hoặc phía sau.
Với người định thuê chỗ bán, nên chọn kiểu chỗ theo ngành hàng: hàng cần nước thì sạp bệ khu tươi sống, hàng cần khoá và điện thì ki-ốt, hàng cần trưng bày đẹp thì quầy kính. Trước khi ký, hỏi ban quản lý về ranh giới chính xác của lô, giờ được mở ki-ốt, quy định về điện và chỗ để hàng qua đêm.
Câu hỏi thường gặp
Sạp và ki-ốt khác nhau thế nào?
Sạp là chỗ bán mở, không có vách riêng, nằm theo dãy trong chợ. Ki-ốt là ô có vách và cửa khoá được, thường ở vòng ngoài chợ, có điện riêng và hợp với hàng giá trị cao.
Ki-ốt là từ tiếng gì?
Ki-ốt mượn từ tiếng Pháp kiosque, vốn chỉ một gian nhỏ bán hàng hoặc bán báo. Ở chợ Việt, chữ này dùng cho ô hàng có cửa khoá.
Lô trong chợ nghĩa là gì?
Lô là một ô chỗ bán được đánh số trên sơ đồ của ban quản lý. Một lô có thể là sạp, ki-ốt hay quầy, và số lô được ghi trong hợp đồng thuê chỗ bán.
Điểm kinh doanh tại chợ là gì?
Điểm kinh doanh là tên gọi chung trong văn bản pháp luật cho các chỗ bán cố định trong chợ như quầy, sạp, ki-ốt, cửa hàng. Số điểm kinh doanh được dùng để phân hạng chợ.
Người bán không có sạp có được bán trong chợ không?
Tuỳ quy chế từng chợ. Một số chợ có khu dành cho người bán theo buổi và thu phí dịch vụ theo ngày; nơi khác không cho ngồi ở lối đi để giữ lối thoát nạn. Nên hỏi ban quản lý chợ.